Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2009

Cứu ngân hàng, Mỹ rơi đúng vào “vết xe đổ” của Nhật?

Trong khi Mỹ và châu Âu thi nhau chi hàng trăm, hàng nghìn tỷ USD để cứu hệ thống ngân hàng, những người dày dạn kinh nghiệm trong ngành tài chính ở Nhật cho rằng, biện pháp này đúng là những sai lầm mà Nhật đã mắc phải trong lần suy thoái trước đây.

Bài học chưa thuộc?

Trong thập niên 1990, Nhật Bản đã trải qua những thách thức tương tự như những gì đang diễn ra ở Mỹ và châu Âu hiện nay.

Khi đó, kinh tế Nhật đã có cả một thập kỷ đình trệ, các ngân hàng chồng chất nợ nần, các chính phủ nối tiếp nhau liên tục tiêu phí hàng ngàn tỷ Yên để vực dậy hệ thống nhà băng mà chẳng đem lại hiệu quả gì.

Chỉ tới năm 2003, Chính phủ Nhật khi đó mới đưa ra được những biện pháp dẫn tới sự phục hồi cho nền kinh tế nước này.

Đó là, buộc các ngân hàng lớn phải tuân thủ những vụ kiểm toán không nương tay và phải công bố nợ xấu; tăng đầu tư công thêm 2.000 tỷ Yên, tương đương hơn 22 tỷ USD ngày nay; quốc hữu hóa một ngân hàng lớn cho dù vụ quốc hữu hóa này gây thiệt hại nặng cho cổ đông; chấp nhận để mặc những ngân hàng yếu hơn không trụ nổi phải đổ vỡ…

Tới khi những biện pháp “lạnh lùng” trên được đưa ra, chỉ số Nikkei 225 của thị trường chứng khoán Nhật đã sụt giảm mất 3/4 giá trị từ mức đỉnh trước đó, giá địa ốc tại nước này đã giảm 15 năm không nghỉ, nợ chính phủ đã vượt quá GDP, gọng kìm thiểu phát siết chặt quần đảo Nhật Bản.

Một số nhà nghiên cứu về giai đoạn lịch sử trên của Nhật cho rằng họ nhận thấy nước Mỹ đang sa vào vết xe đổ trong cách giải quyết khủng hoảng trước đây của đất nước Mặt trời mọc.

“Tôi cứ nghĩ nước Mỹ đã học được gì đó từ thất bại của Nhật Bản chứ. Tại sao họ lại có thể lặp lại cùng những sai lầm đó nhỉ?”, ông Hirofumi Gomi, một qua chức hàng đầu thuộc Cơ quan Dịch vụ tài chính Nhật Bản, nhận xét.

Một số nhà phê bình ở Mỹ chỉ trích kế hoạch giải cứu khối tài chính mà Bộ trưởng Bộ tài chính nước này Timothy Geithner công bố hôm 10/20 vừa qua là thiếu chi tiết. Nhưng các chuyên gia ở Nhật thì cho rằng, đây là một kế hoạch còn “rụt rè”, xét tới quy mô của cuộc khủng hoảng trong ngành ngân hàng mà chính phủ của Tổng thống Barack Obama đang phải đương đầu.

“Tôi nghĩ là Chính phủ Mỹ biết cuộc khủng hoảng này lớn tới mức nào, nhưng họ không muốn nói nó lớn tới mức nào. Cuộc khủng hoảng này lớn tới mức họ không thể thừa nhận thực tế đó”, kinh tế gia John Makin thuộc Viện Doanh nghiệp Hoa Kỳ nhận xét.

Ông nói thêm: “Những bài học của Nhật Bản ở những năm 1990 cho thấy nước Mỹ cần hành động mạnh hơn và phải quốc hữu hóa một số ngân hàng”.

Trên thực tế, ban đầu người Nhật cũng đã từng dò dẫm thử nhiều “liều thuốc” mà chính quyền của Tổng thống George W. Bush đã dùng và chính quyền của ông Obama hiện nay đang dùng. Đó là hạ lãi suất, kích thích tài khóa, bơm tiền…

Thậm chí, Nhật còn nỗ lực huy động nguồn vốn của khu vực tư nhân để mua một số tài sản độc hại trong bảng cân đối kế toán của các ngân hàng, đúng như những gì mà Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Geithner đang đề xuất thực hiện trong kế hoạch vẫn được gọi là “bad bank”.

Một lý do khiến Nhật Bản khi đó có những giải pháp “nhút nhát” như vậy là do Chính phủ e ngại dân chúng có thể nổi giận. Mỗi khi tiền thuế bị đem đi giải cứu các ngân hàng, sự phản đối của dân chúng lại gia tăng mạnh mẽ.

Tuy nhiên, kinh nghiệm của Nhật cho thấy, để giải quyết đống đổ nát của ngành ngân hàng đòi hỏi chính phủ phải mạnh tay và phải chi số tiền cực lớn. Mặt khác, càng trì hoãn việc khắc phục sẽ càng tốn kém.

Một bài học nữa là việc cứu hệ thống ngân hàng sẽ quyết định số phận của nền kinh tế. Mặc dù ông Obama đang ưu tiên kế hoạch kích thích kinh tế của ông, hoạt động kích thích tăng trưởng sẽ chỉ có thể thành công một khi những vết rạn trong hệ thống hệ thống ngân hàng được hàn gắn.“Tôi cho rằng ông Obama đang mắc phải một sai lầm chiến thuật”, ông Makin nói.

Cách làm của Nhật: Phải thật “rắn”!

Cuộc khủng hoảng diễn ra ở Nhật trong thập niên 1900 và đầu những năm 2000 cũng xuất phát gốc rễ tương tự như cuộc khủng hoảng hiện nay ở Mỹ: Bong bóng địa ốc “nổ”, khiến các ngân hàng khốn đốn vì hàng nghìn tỷ Yên nợ xấu.

Ban đầu, các nhà lãnh đạo Nhật Bản không lường hết được mức độ tàn phá của sự lao dốc trên thị trường địa ốc đối với hệ thống ngân hàng. Ở Mỹ, chính sách tiền tệ nới lỏng đã dẫn tới tình trạng đầu cơ cổ phiếu và nhà đất cũng như tình trạng cho vay bừa bãi của các ngân hàng.

Khi khủng hoảng mới manh nha, nhiều nhà hoạch định chính sách Nhật ban đầu cho rằng việc áp dụng lãi suất thấp và các biện pháp kích thích kinh tế sẽ giúp các ngân hàng tự phục hồi. Nhưng tới cuối năm 1997, một loạt ngân hàng tại nước này đã đổ vỡ, châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tín dụng.

Buộc phải hành động gấp, Chính phủ Nhật khi đó bơm 1.800 tỷ Yên, tương đương gần 20 tỷ USD ngày nay, vào các ngân hàng lớn của nước này. Nhưng đợt bơm vốn này do quá nhỏ, không được lên kế hoạch tốt, và do các nhà chức trách còn chưa hiểu hết về mức độ nguy hiểm trong hệ thống, nên đã không thể ngăn chặn được sự leo thang của khủng hoảng.

Cử tri Nhật nổi giận khi thấy tiền thuế bị Chính phủ lãng phí và đã trừng phạt liên minh cầm quyền bằng cách buộc Thủ tướng Ryutaro Hashimoto phải từ chức. Sau đó, nỗi lo về sự giận dữ của dân chúng đã “trói tay” Chính phủ Nhật.

Cũng vì lo ngại có thêm tin xấu xuất hiện, Chính phủ Nhật khi đó đã không buộc các doanh nghiệp công bố và cắt bỏ nợ xấu. Các khoản vay đã cấp cho các doanh nghiệp được liệt vào hàng dở sống dở chết vẫn tiếp tục được giữ trong bảng cân đối kế toán của các ngân hàng, thay vì được công bố cụ thể và đánh tụt giá trị.

Trong khi đó, Chính phủ Nhật tiếp tục thử nghiệm những biện pháp mới, trong đó đáng chú ý nhất là thành lập hàng loạt quỹ đầu tư có sự góp vốn một phần của tư nhân để mua tài sản xấu của các ngân hàng. Tuy nhiên, lượng nợ xấu mà các quỹ này mua vào rất nhỏ giọt do quy mô của các quỹ chỉ là nhỏ bé. Đồng thời, việc bán nợ xấu cũng chẳng giúp các ngân hàng giải quyết được tình trạng thiếu vốn là bao, vì giá bán những tài sản này rất rẻ mạt.

Ước tính, số tiền thuế của dân mà Chính phủ Nhật chi ra khi đó để cứu các ngân hàng chỉ thu hồi chưa được một nửa. Trong thời kỳ 1992 - 2005, các ngân hàng Nhật đã thâm hụt tài sản khoảng 96.000 tỷ Yên, tương đương 19% GDP hàng năm của nước này.

Cho tới lúc này, kế hoạch khôi phục khối tài chính của chính quyền Obama vẫn né tránh những quyết định khó khăn nhất như quốc hữu hóa các ngân hàng, loại bỏ các cổ đông, hay để các ngân hàng ôm quá nhiều nợ xấu tự sụp đổ. Trên thực tế, Nhật Bản cuối cùng đã buộc phải để những điều này xảy ra. “Thật đáng ngạc nhiên là Mỹ đang lặp lại sai lầm của Nhật. Các nhà hoạch định chính sách Mỹ thì lúc nào mà chẳng sẵn sàng khuyên nước Nhật phải làm thế này, thế kia cơ mà”, kinh tế gia Makin nói.Các chuyên gia cho biết, những sai lầm của Nhật trên đã khiến hệ thống tài chính của nước này mất 6 năm sau khi khủng hoảng nổ ra mới có thể phục hồi. Năm đó, Chính phủ của nhà lãnh đạo cải cách Junichiro Koizumi đã ra lệnh kiểm toán nghiêm ngặt những ngân hàng hàng đầu của Nhật. Người lãnh đạo chương trình cải cách tài chính của Nhật khi đó là ông Heizo Takenaka, và kế hoạch cải cách này cũng mang tên ông, Kế hoạch Takenaka.Ban đầu, các ngân hàng công khai phản đối Takenaka. “Chính phủ không thể yêu cầu lãnh đạo ngân hàng làm việc này, việc kia. Như thế là quá lố bịch”, ông Yoshifumi Nishikawa, Chủ tịch tập đoàn Sumitomo Mitsui Financial Group, phát biểu vào năm 2002.Nhưng ông Heizo Takenaka vẫn giữ vững quan điểm của mình. Trong một cuộc phỏng vấn mới đây, ông kể lại: “Khẩu hiệu của tôi khi đó đối với các ngân hàng là: “Đừng che giấu điều gì. Đừng trốn tránh mà phải tuân thủ quy tắc”. Tôi nói rõ với họ là tôi ở vị trí giám sát họ và tôi sẽ không đàm phán gì với họ hết”.Phải mất 3 năm, kế hoạch của ông Takenaka mới giải quyết được phần lớn số nợ xấu trong các ngân hàng. Ngân hàng Resona do bị phát hiện thiếu vốn đã bị quốc hữu hóa. Sự cứng rắn của ông Takenaka đã giúp phục hồi lại niềm tin của dân chúng và thị trường vào hệ thống ngân hàng.Đúng lúc đó, kinh tế Nhật đón một cơn gió lành mới, đó là sự bùng nổ của hoạt động xuất khẩu sang Mỹ , góp phần đáng kể cho sự phục hồi của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.Tuy nhiên, lúc này, nước Mỹ có lẽ không thể trông đợi ở sự gia tăng nhu cầu của thế giới đối với hàng hóa của mình, vì suy thoái kinh tế đã lan rộng trên toàn cầu. Bởi thế, nhiều chuyên gia cho rằng, với cách giải quyết tình hình của Chính phủ Mỹ hiện nay, gánh nặng đối với người dân Mỹ khi tiền thuế của họ tiếp tục được đem đi để cứu các ngân hàng có lẽ sẽ còn tăng thêm nữa.(Theo IHT)

Một mình ....

Tôi cô đơn không phải vì tôi không có bạn.
Tôi cô đơn không phải tôi không có người yêu.
Tôi cô đơn không phải bởi vì không có ai thật sự quan tâm đến tôi.
...
Mà, bởi lẽ
Tôi cô đơn vì chưa ai thật sự hiểu được tôi.
Bởi vì tôi có những việc mà tôi không thể nói.
Bởi vì tôi phải giải quyết những suy nghĩ trong tôi một mình.
Hay những lúc không tài nào chợp mắt.
...
Tôi sống quá nội tâm ư?
Tôi sống nhiều quá cho chính mình ư?
...
Hay một lý do nào đó mà có lẽ chính tôi cũng không biết được.
Để rồi cái cảm giác cô đơn ấy cứ đến với tôi mỗi lúc chiều về, mỗi lúc tôi buồn hay những lúc tôi thật sự cần một ai đó nhưng thật sự chẳng biết nên gọi cho ai.

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2009

Kinh tế Việt Nam trong bão tài chính 2008 - 2009

Mở đầu

Ngày 23/10/2008, ông Alan Greenspan, người đã điều hành ngân hàng trung ương Hoa Kỳ suốt 19 năm từ 1987 đến 2006, có mặt tại phiên điều trần trước các thượng nghị sĩ Hoa Kỳ về trách nhiệm cá nhân với tình trạng hỗn loạn và sụt giảm trên thị trường tài chính Hoa Kỳ. Tại đây, cựu Chủ tịch FED đã dùng hình ảnh Cơn sóng thần thế kỷ để mô tả cuộc khủng hoảng tài chính, bắt nguồn từ đổ vỡ và thua lỗ trên thị trường tín dụng bất động sản dưới chuẩn, nhanh chóng tàn phá các thị trường tài chính quốc tế kể từ cuối 2007.
Trong hình ảnh được ông Greenspan sử dụng, có thể thấy được sức mạnh siêu nhiên không gì cản nổi của Tsunami. Nhân loại có thể quan sát nó, đưa ra những cảnh báo về nó, gắng sức chống đỡ nó, nhưng kết cục bị tàn phá hoang tàn thật khó mà thay đổi. Các định chế tài chính, dù khổng lồ tới đâu vẫn bỗng chốc trở nên nhỏ nhoi trước những khoản thu lỗ tín dụng đổ ụp xuống như những cột nước cao hàng trăm mét ập vào bờ biển.
Cho tới những ngày cuối cùng của năm 2008, danh sách thống kế thiệt hại và tổn thất mà cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục dài thêm và chưa có dấu hiệu dừng lại. Trên chính trường nước Mỹ, cuộc đua vào Nhà Trắng đã ngã ngũ với chiến thắng lịch sử dành cho đại diện của đảng Dân chủ. Nhiều kỳ vọng đặt vào sách lược điều hành nền kinh tế số một hành tinh của ông Barack Obama với tâm điểm “Thay đổi” (Change), mà nhờ đó, kinh tế thế giới trong năm 2009 sẽ dần đi vào ổn định, các nền tảng cho một chu kỳ tăng trưởng mới được hình thành.
Biến cố kinh tế thế giới tác động rõ nét tới độ ổn định và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Năm 2008 đã đi qua với lãi suất cáo và vấn đề thanh khoản của hệ thống tín dụng, những cơn sốt giá lương thực và năng lượng. Sụt giảm của TTCK đang tiếp diễn… Với sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, quyết tâm thực thi các giải pháp đồng bộ của Chính phủ, hệ thống kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều tín hiệu phản hồi tích cực từ thị trường. Đây là thời điểm thích hợp để nhìn lại những khó khăn đã vượt qua, đánh giá mức độ tác động của các yếu tố bên ngoài tới đảm bảo an ninh kinh tế-tài chính quốc gia, và xác định thách thức sẽ đương đầu trong năm 2009. Từ đó, nhận diện các vấn đề cần quan tâm và tập trung nguồn lực giải quyết.
Từ những biến cố 2008…
Kinh tế Việt Nam kết thúc năm 2007 với thu hút vốn FDI đạt kỷ lục 17,8 tỷ USD và kinh tế tăng trưởng 8,4%. TTCK có cả năm thăng hoa với chỉ số VNIndex thường xuyên ở trên ngưỡng 1000 điểm kể từ nửa cuối tháng 1/2007 cho đến giữa tháng 11/2007, xen giữa là giai đoạn giảm nhẹ trong tháng 8 và 9/2007. Đến cuối 2007, VNIndex, hàn thử biểu của nền kinh tế, vẫn đạt trên 900 điểm. Tâm lý chung là lạc quan và phấn khởi. Bởi vậy, mức nhập siêu tăng gấp gần 2,5 lần so với năm 2006 và chỉ số lạm phát lần đầu trở lại với 2 con số sau hơn một thập kỷ kể từ 1995 không thực sự khiến nhiều nhà kinh tế và giới kinh doanh lo âu.
Vào lúc đó, biến cố đã xảy ra trên thị trường tín dụng bất động sản của Hoa Kỳ. Kể từ tháng12/2001, FED-ngân hàng trung ương của nền kinh tế Hoa Kỳ, đã thực thi chính sách nới lỏng tiền tệ, duy trì mức lãi suất dưới 2% cho tới ngày 10/11/2004. Động thái này được giới chính trị gia Hoa Kỳ ủng hộ nhờ góp phần mở rộng tín dụng dành cho tầng lớp có thu nhập từ trung bình thấp trở xuống. Trong bối cảnh đó, rất nhiều công ty tài chính được thành lập ở Hoa Kỳ như một giải pháp cung cấp tín dụng và thu lợi nhuận chênh lệch lãi suất, đồng thời, tránh các qui định kiểm soát tín dụng chặt chẽ với hệ thống ngân hàng.
Hệ quả là các tiêu chuẩn cho vay được hạ thấp, dẫn đến thị trường bất động sản phát triển quá nóng. Khi FED tăng lãi suất lên 4% đầu tháng 11/2005, và duy trì lãi suất ở trên mức này tới hết 2007. Ngay lập tức, đông đảo người vay tiền mua bất động sản rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Theo một dây chuyền, thực tế này đẩy nhiều ngân hàng và định chế tài chính tới thua lỗ nặng, đối diện với nguy cơ phá sản cao hoặc bị thâu tóm kể từ tháng 8/2007.
Được bao bọc trong nhiều lớp công cụ phái sinh tài chính, rủi ro của các khoản tín dụng bất động sản mới chỉ bộc lộ một phần. Quá trình sụp đổ lan truyền rất khó dự báo đầy đủ qui mô và tính phức tạp. Thị trường tín dụng Hoa Kỳ vẫn tiếp tục trạng thái “co rút.” Và gánh nặng này còn tiếp diễn với những biến đổi khó lường. Đây cũng là dấu hiệu cảnh báo rủi ro tín dụng xuất phát từ quan hệ liên thông giữa các thị trường chứng khoán-tiền tệ-bất động sản đang biểu hiện ngày một rõ hơn tại Việt Nam.

Tín dụng và vấn đề thanh khoản của hệ thống ngân hàng














Trước những dấu hiệu gia tăng lạm phát xuất hiện cuối năm 2007, ngay từ đầu năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chắt. Những động thái đầu tiên được thực thi trong quí I/2008 gồm: (i) qui định tỷ lệ dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán không vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; (ii) tăng lãi suất cơ bản lên mức 8,75%/năm (+ 0,5%); và (iii), phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc. Những liệu pháp này gây cú sốc với nền kinh tế.

Cùng thời điểm với phát hành tín phiếu bắt buộc (17/3/2008), bên kia bờ Thái Bình Dương, ngân hàng danh tiếng Bear Stearns kết thúc 85 năm tồn tại độc lập do thua lỗ tín dụng. JP Morgan Chase mua lại ngân hàng này với mức giá rẻ giật mình: 2 USD/cổ phiếu, tương đương 1/15 mức giá của phiên giao dịch gần nhất. Kết thúc chóng vánh của thương vụ này cộng với khoản cam kết 30 tỷ USD của FED hỗ trợ giải tỏa áp lực bán tháo các chứng khoán có đảm bảo bằng bất động sản thế chấp của Bear Stearn được giới phân tích xem như giải pháp gọn gàng nhằm ngăn chặn hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền của hệ thống ngân hàng Mỹ và Châu Âu.
Chưa kể tới sụt giảm của TTCK, phản ứng của thị trường tín dụng Việt Nam khá tiêu cực. Trước tiên là khan hiếm nguồn tín dụng. Dù NHNN có “bơm” trở lại lưu thông 33.000 tỷ đồng ngay trong tháng 3/2008 nhưng trong quá trình tái cơ cấu các khoản tín dụng và đáp ứng yêu cầu tham gia mua tín phiếu bắt buộc, các NHTM khước từ phần đông yêu cầu tín dụng của doanh nghiệp. Thêm vào đó, lạm phát gia tăng cũng đẩy mặt bằng lãi suất lên cao theo nguyên lý “lãi suất dương.” Liên tiếp trong tháng 5 và 6/2008, lãi suất cơ bản được nâng lên 12%, rồi 14%. Với biên độ dao động cho phép là 150%, có thời điểm, lãi suất huy động vượt trên 20%/năm. Hẳn nhiên với đầu vào như vậy, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng vốn phải chấp nhận mức lãi suất rất cao để tồn tại. Không ít đơn vị sản xuất kinh doanh chấp nhận dùng “thuốc độc tín dụng” để tồn tại.

Giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 7/2008 cũng chứng kiến biến động mạnh mẽ tương quan giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ. Tỷ giá trên thị trường tự do và tỷ giá bình quân ngân hàng có mức chênh lệch rất lớn. Khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4/2008, nhu cầu sử dụng đô la rất thấp. Tỷ giá tự do thấp hơn tỷ giá niêm yết chính thức. Sang tháng 5 và đặc biệt vào nửa cuối tháng 6/2008, giá đô la Mỹ trên thị trường tự do tăng cao đột biến. Khoảng cách giữa hai hình thức tỷ giá giao động từ 3.000 đến 3.500 đồng/USD.
Mặc dù, tới cuối tháng 10/2008 mức lãi suất trần mới dần được hạ xuống nhưng với các can thiệp cương quyết bình ổn thị trường của Chính phủ và áp lực thanh khoản giảm đáng kể của hệ thống NHTM, mặt bằng lãi suất đã bắt đầu giảm từ nửa cuối tháng 7/2008. Trong quí IV/2008, chính sách tiền tệ được NHNN nới lỏng. Lãi suất cơ bản được điều chỉnh giảm đều đặn mỗi tháng 1%. Từ ngày 5/12/2008, lãi suất cơ bản ở mức 10%/năm. Cùng ngày, ngân hàng First Georgia Community Bank hoạt động tại bang Georgia buộc phải đóng cửa, nâng tống số ngân hàng thương mại phá sản tại Hoa Kỳ lên 23.
Bước sang những ngày cuối cùng của năm 2008 và cuộc đua trên chính trường Hoa Kỳ đã kết thúc với phần thắng thuộc về đại diện của Đảng Dân chủ nhưng hệ thống tài chính-tín dụng quốc tế vẫn chưa tìm lại được sự ổn định. Ông Barack Obama, người được giới tài phiệt phố Uôn ủng hộ, đang tích cực xây dựng bộ khung điều hành mới. “Thay đổi” (Change) là điều được người ta kỳ vọng nhiều nhất trong các chính sách bình ổn và khôi phục kinh tế sắp được thi hành. Tuy vậy, những chuyển biến tích cực khó mà xảy ra tức thì trong đầu năm sau, bởi cần có thời gian để ông chủ mới tiếp quản Nhà Trăng và các điều chỉnh chính sách phát huy tác dụng.
Bài toán nguồn vốn tín dụng còn tiếp tục gây đau đầu không chỉ với nhà quản trị kinh doanh Việt Nam mà còn cả với các ngân hàng. Câu chuyện này nhiều khả năng kéo dài trong suốt cả năm 2009. Tăng trưởng tín dụng sau khi tăng cao tới 54% trong năm 2007 đã giảm xuống còn 24% trong năm 2008. Lãi suất đi xuống từ tháng 7/2008 nhưng tăng trưởng tín dụng giảm mạnh trong nửa cuối của năm. Nếu trong nửa đầu 2008, tăng trưởng tín dụng hàng tháng luôn dao động từ 2-5% thì tốc độ tăng của tháng 7 chỉ còn 0,7% và tiếp tục giảm xuống 0,56% trong tháng 8/2008.

Đầu cơ và biến động giá cả


Bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động đầu cơ quốc tế. Các nhà ngân hàng và tập đoàn đa quốc gia với tài sản hàng nghìn tỷ USD thao túng thị trường giao dịch hàng hóa thiết yếu và đầu vào sản xuất quan trọng. Lần lượt dầu thô, lương thực, và vàng trở thành đối tượng tập trung đầu cơ cao. Tiền tệ và tài sản tài chính của các quốc gia sẽ trở thành mục tiêu kế tiếp, theo một kịch bản xấu.



Diễn biến phức tạp của giá dầu mỏ. Mâu thuẫn địa-chính trị ở một số khu vực nhạy cảm dầu mỏ trên thế giới và hoạt động tích cực của các nhà đầu cơ đã đẩy giá dầu thô tăng mạnh trong suốt 6 tháng đầu năm 2008, lên mức đỉnh cao, lần đầu tiên trog lịch sử kinh tế thế giới, dầu thô được giao dịch với giá 147 USD/thùng vào ngày 11/7/2008. Giá nhiên liệu tăng cao đặt các nền kinh tế toàn cầu trong tình trạng báo động đỏ khủng hoảng năng lượng. Tại Việt Nam, xăng A92- nhiêu liệu được tiêu dùng phổ biến nhất, có lần tăng giá đầu tiên trong năm 2008 vào cuối tháng 2, từ 13.000 đồng lên 14.500 đồng/lít. Thời điểm này, dầu mỏ trên thị trường quốc tế giao dịch quanh mức giá 100 USD/thùng. Xăng dầu là vật tư thiết yếu của sản xuất và hoàng hóa quan trọng trong đời sống. Chính phủ Việt Nam từ lâu vẫn duy trì sự điều tiết chặt chẽ thông qua thuế, truyền thông, và qui định giá. Đến giữa tháng 7/2008, trước áp lực giá tăng kỷ lục của thị trường thế giới, giá bán lẻ xăng A92 tại Việt Nam có sự điều chỉnh lớn, tăng tới trên 30%, lên mức 19.000 đồng/lít.
Thời kỳ tiêu dùng xăng giá cao dần qua đi kể từ nửa sau tháng 8/2008. Giá xăng bán lẻ được điều chỉnh giảm từ từ qua nhiều lần. Từ tháng 21/8 đến 8/12/2008 có 10 lần điều chỉnh giảm giá xăng trên thị trường, và dừng ở mức 11.000 đồng/lít (xăng A92). Khi này, giá dầu thô thế giới quanh mức 40 USD/thùng.
Quan hệ cùng chiều giữa giá dầu mỏ thế giới và giá xăng bán lẻ tại Việt Nam là rõ ràng. Điểm đáng chú ý là trong thời kỳ tăng giá, tốc độ biến thiên giữa giá nội địa và quốc tế tương đối đồng đều. Nhưng bước sang giai đoạn điều chỉnh giảm, khoảng cách này nới rộng nhanh chóng. Đây là nguyên nhân dẫn tới nhiều bức xúc của người tiêu dùng với các đơn vị cung cấp xăng dầu bán lẻ vì cho rằng, giá thế giới giảm lớn hơn nhiều so với mức điều chỉnh trong nước.
Giá vàng lên xuống bất thường. Ở Việt Nam, vàng là hàng hóa đặc biệt, vừa là tài sản tiết kiệm được ưu thích, vừa là phương tiện thanh toán phổ biến. Trong năm 2008, mức độ tăng giảm của giá vàng tương đối lớn. Trong tháng 2 và 3/2008, chỉ số giá vàng liên tiếp tăng 11 và 13 điểm phần trăm. Trong hai tháng tiếp theo, chỉ số giá vàng giảm tổng cộng 13 điểm phần trăm. Tháng 7/2008, chỉ số giá vàng tăng cao nhất trong 10 tháng đầu năm, ở mức 220,46. Nhưng đến hết tháng 9/2008, chỉ số giá vàng lại tụt xuống 200 điểm.
Các sàn giao dịch vàng ra đời bổ sung thêm một kênh đầu tư mới. Theo ghi nhận chung từ các kênh truyền thông thì đây là loại hình đầu tư ẩn chứa nhiều rủi ro. Và trong khoản thời gian ngắn thua lỗ có thể đạt tới qui mô rất lớn. Điều thú vị là trong lúc nhiều hàng hóa chịu sự kiểm soát chặt chẽ về giá cả như chứng khoán (qua giới hạn biên độ dao động giá cổ phiểu), tiền tệ (qua cơ chế lãi suất cơ bản và biên độ dao đông), xăng dầu (qua qui định giá bán lẻ)… thì giá vàng trên thị trường gần như được thả nổi.
Giá lương thực làm nhiều quốc gia lao đao. Nạn đầu cơ cũng khiến giá lương thực tăng nhanh từ tháng 4 đến tháng 6/2008. Trong ba tháng, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam lần lượt tăng 23,6%, 40,4% và 26,7%. So với tháng 1, giá gạo xuất khẩu của tháng 4/2008 đã tăng gấp hơn hai lần. Giá gạo xuất khẩu của tháng 6/2008 tăng cao nhất, 1.005 USD/tấn.
Trước tình hình giá lương thực tăng cao, nhiều nước xuất khẩu gạo chủ chốt (trong đó có Việt Nam) đã lựa chọn giải pháp tạm ngừng xuất khẩu để quan sát. Trong khi đó, các quốc gia nhập khẩu nỗ lực tích lũy lương thực để duy trì ổn định giá cả và đảm bảo an ninh lương thực. Thực tế này dẫn tới hai hiệu ứng đồng thời: (i) giá lương thực tiếp tục bị đẩy lên cao; và (ii) hành động “bơm" thêm tiền để mua lượng thực của các Chính phủ khiến tình hình lạm phát ở nhiều quốc gia càng thêm trầm trọng.













Hiện tượng đầu cơ, tạo khan hiếm giả tạo mặt hàng gạo đã xuất hiện trên thị trường Việt Nam vào cuối tháng 4/2008. Chính phủ đã có những chỉ đạo quyết hướng tới bình ổn giá cả và trấn an tâm lý. Sáng tháng 6/2008, xuất khẩu gạo đã được phục hồi. Trong hai tháng 6 và 7/2008, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam còn cao hơn mức giá bình quân thế giới.

Lạm phát và tăng trưởng



Năm 2008 chứng kiến căn bệnh lạm phát hoành hành ở nhiều quốc gia. Trường hợp Zimbabwe là điển hình của lạm phát cao. Lạm phát của nước này vào tháng 11/2007 là 24.470%, tới tháng 10/2008 tăng lên tới 219.800.000%!
Để ứng phó với lạm phát, nhiều tổ chức quốc tế khuyến nghị các Chính phủ thực thi triệt để chính sách cắt giảm chi tiêu công, cải thiện hiệu suất đầu tư, thắt chặt tiền tệ và tín dụng bằng nâng cao lãi suất…. Đây là những liệu pháp phù hợp với lý thuyết kinh tế nhưng việc áp dụng luôn tạo ra các hiệu ứng phụ tiêu cực, nên cần có cân nhắc thấu đáo về thời điểm vận dụng và liều lượng đúng mực.
Vận hành kinh tế không chỉ có các biến số kinh tế vĩ mô như đầu tư, tiết kiệm, xuất và nhập khẩu… mà còn phải làm hòa hợp tác động của các yếu tố hành vi cá nhân như tinh thần đoàn kết dân tộc, truyền thống đùm bọc và chia sẻ khó khăn, quyết định lựa chọn đáp ứng nhu cầu theo học thuyết Maslow, lợi ích đầu tư-thương mại cộng đồng v.v.. Mục tiêu cuối cùng của mọi Nhà nước là ổn định đời sống kinh tế-xã hội-chính trị. Lạm phát là một cản trở lớn trên con đường đi tới mục tiêu này. Và vì thế, chấp nhận bất ổn và đời sống dân cư khó khăn để đánh đổi lấy lạm phát thấp trên thực tế đẩy các quyết sách điều hành vĩ mô đi xa khỏi mục tiêu.
Lạm phát tại Việt Nam tăng mạnh trong nửa đầu năm 2008. Cuối tháng 6/2008, chỉ số giá so với kỳ gốc 2005 là 144,30%. Trong quí III/2008, tốc độ tăng CPI giảm dần. Tính cả quí, CPI chỉ tăng 4,18 điểm phần trăm. Từ tháng 10/2008, xuất hiện dấu hiệu giảm phát khi CPI giảm xuống 148, 20 so với mức 148,48 của tháng trước.
Dấu hiệu kinh tế đình đốn và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng ngay tại các nền kinh tế phát triển khiến nhiều Chính phủ lo ngại. Trong dài hạn, chưa xuất hiện dấu hiệu tăng trưởng kinh tế tích cực của nền kinh tế Hoa Kỳ. Nền kinh tế đầu tầu này đã ghi nhận tỷ lệ thất nghiệp 6,1%, cao nhất trong 5 năm trở lại đây vào tháng 8/2008. Nhiều khả năng, vấn đề việc làm tại Hoa Kỳ còn tiếp tục trầm trọng thêm. Từ tháng 11/2008, lãnh đạo các nền kinh tế thuộc khu vực châu Âu đã nhiều lần nhóm họp, tìm tiếng nói chung cho các giải pháp kích thích kinh tế.
Với Việt Nam, những tháng biến động vừa qua là một thời kỳ phân hóa mạnh giữa các doanh nghiệp dựa trên tiêu chí cơ bản nhất: năng lực cạnh tranh. Tình cảnh sản xuất trì trệ, khó khăn trong thanh toán và tín dụng bộc lộ những điểm yếu cần khắc phục: (i) năng lực quản lý hạn chế, (ii) thiếu chiến lược và tầm nhìn kinh doanh, (iii) đầu tư kém hiệu quả và thiếu cẩn trọng, (iv) hàm lượng giá trị gia tăng nhỏ bé. Nguyên nhân quan trọng, góp phần trầm trọng thêm các điểm yếu này là sự hào hứng quá mức với TTCK kéo dài từ 2006 đến hết 2007. Nguồn vốn được huy động dễ dàng đã tạo tâm lý chủ quan và hưởng thụ trong một bộ phận không nhỏ của cộng đồng doanh nghiệp.
Vụ Tín dụng-NHNN cho biết, tỷ lệ nợ xấu cho vay DNVVN của hệ thống ngân hàng tính đến 31/7/2008 là 3,64% (số tuyệt đối là 10.886 tỷ đồng), tăng 1% so với 2007. Nếu đánh giá trên năng lực trả nợ đúng hạn, phần đông doanh nghiệp hoạt động ở mức trung bình, tỷ lệ gặp khó khăn gần 4%, trong đó khoảng 1,5% có nguy cơ mất vốn.
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ diễn ra ngày 1 và 2/12, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý dành khoản tài chính 1 tỷ USD để thực hiện các giải pháp trọng tâm kích cầu đầu tư và tiêu dùng. Chính phủ cũng nhấn mạnh cần tập trung giải ngân và giải ngân hết các dự án có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, trái phiếu Chính phủ và vốn ODA.
Trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa, nhập siêu là hiện tượng khách quan khi năng lực chế tạo “máy cái” trong nước chưa đáp ứng đủ qui mô tăng trưởng của nền kinh tế. Chiếm tỷ trọng lớn trong hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là nguyên liệu đầu vào sản xuất. Trong những tháng đầu năm 2008, giá thế giới của các nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, xăng dầu, sắt thép… đều tăng mạnh. Do vậy, giá trị nhập siêu lớn lên nhanh. Tuy nhiên, kể từ tháng 5/2008, đà tăng thâm hụt thương mại quốc tế đã giảm nhờ các nỗ lực cắt giảm chi tiêu và tăng cường tiết kiệm. Giá trị nhập siêu của 11 tháng năm 2008 là 16,9 tỷ USD. Lưu ý là, sau 5 tháng đầu năm, nhập siêu đã trên 14 tỷ USD.

Dòng vốn quốc tế



Khi TTCK chưa ra đời, dòng vốn nước ngoài đi vào Việt Nam chủ yếu bằng hình thức FDI nhưng đã chứng tỏ là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong giai đoạn 1992-97, FDI đóng góp từ 5% đến 10% GDP hàng năm.
Kinh tế thế giới gặp rất nhiều khó khăn trong năm 2008, nhưng lượng vốn FDI cam kết dành cho Việt Nam vẫn tăng cao kỷ lục. Theo Tổng cục Thống kê, trong 11 tháng của năm 2008, 1059 dự án FDI được đăng ký mới với qui mô vốn cam kết vượt trên 60 tỷ USD. Đây là con số rất ấn tượng, gấp hơn 3 lần năm 2007 và hơn 8 lần so với năm 2005. Giải ngân vốn FDI năm 2008 cũng lập một kỷ lục với 10,1 tỷ USD cho đến hết tháng 11/2008, tăng 44,2% so với cùng kỳ năm 2007. Mặc dù vậy, tỷ lệ vốn giải ngân mới chỉ bằng 17% con số đăng ký.
Nguyên nhân giải ngân chậm, theo khảo sát của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương tại 140 doanh nghiệp FDI, tập trung vào bốn nhóm lý do: (i) thay đổi chính sách ở địa phương (20%), (ii) khó khăn về giải quyết thủ tục đầu tư (17%); (iii) thay đổi trong chiến lược kinh doanh của công ty mẹ, bắt nguồn từ những biến cố kinh tế toàn cầu (15%); và (iv) môi trường đầu tư không thuận lợi như dự đoán ban đầu (17%).
Bên cạnh dòng FDI, vốn đầu tư gián tiếp (FPI) xuất hiện tại Việt Nam khá sớm. Tám quỹ đầu tư, quản lý lượng vồn khoảng 700 triệu USD đã hiện diện từ đầu thập kỷ 1990. Khó khăn trong tìm kiếm cơ hội bỏ vốn và tác động của khủng hoảng tài chính 1997 đã chuyển hướng dòng vốn này ra khỏi Việt Nam.
Sự sôi động của TTCKVN thu hút rất nhiều quan tâm của giới đầu tư tài chính quốc tế. Theo thống kê của Emerging Porfolio Fund Research (EPFR) Global, hiện có ít nhất 25 quỹ đầu tư dành cho Việt Nam với qui mô vốn trên 10 tỷ USD. Dù rằng mây đen khủng hoảng tài chính toàn cầu đang lởn vởn trên đầu nền kinh tế Việt Nam, giữa các quỹ đầu tư vẫn có một đồng thuận rằng rất đông các nhà đầu tư toàn cầu đang bỏ vốn vào sự trỗi dậy trở lại của môt nền kinh tế ổn định và tăng trưởng cao như Việt Nam.
Năm 2008, lần đầu tiên GDP bình quân đầu người của Việt Nam vượt qua mốc 1.000 USD. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cho năm 2009 được Quốc hội đặt ra là 6,5%. Trong các kịch bản thiếu lạc quan hơn, các đại diện Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) đều đồng ý rằng mức tăng trưởng 5% hoàn toàn khả thi với Việt Nam. Đại diện Ngân hàng Thế giới (WB) tin tưởng tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ vượt qua con số 6,5%.

Sụt giảm TTCK



Vận động lên xuống của các chỉ số chứng khoán cũng như giá các loại cổ phiếu có tác động ngày càng lớn hơn tới đời sống xã hội. Đến cuối năm 2008, giá trị các chỉ số chứng khoán giảm tới 70% so với đầu năm. Ngay một số cổ phiếu thuộc nhóm “blue-chip” còn có mức sụt giảm lớn hơn nhiều, như SSI (- 84%) và FPT (- 78%).
Nửa đầu năm 2008, chỉ số chứng khoán tụt dốc nhanh chóng. Đầu tháng 1/2008, VNIndex còn trên 900 điểm. Tới đầu tháng 6/2008, hàn thử biểu kinh tế lần đầu rơi xuống dưới ngưỡng 400 điểm. Thị trường tiếp tục giằng co trong quí III/2008. Từ sau tháng 10/2008, TTCKVN liên tục giảm điểm. Tới ngày 11/12/2008, VNIndex chỉ còn 288 điểm. Tại Hà Nội, HaSTC-Index còn 101 điểm. Trước đó, thị trường Hà Nội thậm chí còn lùi về sau vạch xuất phát, tụt xuống 97,61 điểm vào kết thúc phiên giao dịch ngày 27/11/2008.
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nhiều lo lắng được dành cho thị trường bán lẻ trong nước trước nguy cơ thâm nhập của những “cá mập” quốc tế. Không chỉ giới kinh doanh mà các nhà nghiên cứu và quản lý chính sách đều rất băn khoăn cho sự tồn tại của hệ thống bán lẻ trong nước trước không khí khẩn trương chiếm lĩnh thị trường của BigC, Metro, hay Parkson và đang lăm le là những người khổng lồ như Carrefour và Walmart. Thế nhưng, cơn sóng lớn đầu tiên lại ập xuống các thị trường tín dụng, tiền tệ và chứng khoán.
Từ cuối năm 2007, hệ thống tài chính thế giới sa vào khủng hoảng nghiêm trọng. Đây cũng là điểm bắt đầu của quá trình sụt giảm trên TTCKVN. Trong bối cảnh kinh tế trong nước cũng gặp nhiều khó khăn với giá cả tăng cao, tín dụng khan hiếm ở mức lãi suất cao, thanh khoản giảm trên nhiều thị trường, các nhà đầu tư Việt Nam bắt đầu ngắm chỉ số DJIA và Nikkei để đặt giá cho phiên giao dịch tiếp theo. Quốc tế hóa đã vào tới túi tiền của từng nhà đầu tư Việt Nam.














… Đến thách thức 2009

Kinh tế thế giới bước sang 2009 với nhiều lo âu và thấp thỏm. Đầu tầu kinh tế toàn cầu sau khi lên dốc không thành vào quý III/2008, đã trượt dốc không phanh. Các kế hoạch cứu trợ khẩn cấp liên tiếp được đưa ra, mà riêng ở Hoa Kỳ đã lên tới hơn 2.000 tỷ USD, nhưng không làm sao ngăn được sự bốc hơi của lượng tài sản tài chính (bao gồm cả bất động sản đã tiền tệ hóa) lên tới hơn 30.000 tỷ USD.
Toàn thế giới đã rung động. Sốt lạm phát. Giá hàng hóa vật tư sản xuất tăng cao. Giá dầu ngự trị trên ngai 149 USD, và đã từng được tiên đoán có thể vượt 200 USD. Rồi co rút tín dụng và mất thanh khoản dòng vốn toàn cầu. Giá dầu tụt xuống ngưỡng 40 USD chẳng bao lâu sau cái đỉnh suýt 150 kia. DJIA xuống dưới 8.000 sau những phiên co giật kỷ lục, cả tăng và giảm, những mức dao động lớn mà chỉ có dịp thấy như trong vụ 11-9. Giờ thì như cơm bữa. Người ta còn cho rằng, DJIA có thể xuống tới 6.500, một con số đáng sợ. Trung Quốc, quốc gia láng giềng, cũng dốc túi trong kế hoạch 600 tỷ USD cứu trợ…
Trong dự báo triển vọng kinh tế mới nhất của WB, tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ chỉ ở mức 0,9%, thấp hơn rất nhiều so với con số 2,5% của năm 2008. Đây cũng là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ 1982, là thời điểm tăng trưởng kinh tế toàn cầu ở mức 0,3%. Tăng trưởng của các quốc gia đang phát triển sẽ đạt khoảng 4,5%, tương đương tốc độ ở thời kỳ suy thoái kinh tế.
Nếu tăng trưởng kinh tế diễn ra theo đúng kịch bản 6,5% thì trong năm 2009, Việt Nam vẫn tiếp tục là nền kinh tế thu hút nhiều quan tâm của cộng đồng kinh doanh và tài chính quốc tế. Tuy vậy, khó khăn về nguốn vốn và tín dụng quốc tế chưa qua đi. Thu hút vốn FDI trong năm sau sẽ gặp nhiều khó khăn. Qui mô vốn cam kết mới khó lòng vượt qua con số kỷ lục của 2008. Ưu tiên đẩy nhanh tiến độ và tăng cường giải ngân các dự án đã có cam kết vốn trong những năm trước là lựa chọn hợp lý so với nỗ lực thu hút thêm các cam kết đầu tư mới. WB dự báo dòng vốn tư nhân chảy sang các nước đang phát triển sẽ giảm mạnh từ 1.000 tỷ USD (2007) xuống còn 530 tỷ USD trong năm 2009.
Bên cạnh đó, giá các tài sản tài chính tại Việt Nam đang ở mức rất thấp. Có thể coi đây là thời điểm thuận lợi cho khoản 10 tỷ USD- đang nằm tại các quỹ đầu tư, giải ngân vào Việt Nam. Lượng vốn FPI này gần tương đương với vốn FDI đã thực hiện trong năm 2008. Ưu thế của dòng vốn này là có khả năng nhân lên trong thời gian ngắn và tiếp tục vận động trong nền kinh tế Việt Nam cho tới hết thời gian hoạt động của quỹ, thường từ 7 đến 10 năm. Khả năng xuất hiện tình trạng rút vốn hàng loạt (capital flight) như từng xảy với nhiều quốc gia Đông Á trong khủng hoảng 1997 hầu như không có với Việt Nam. Lý do căn bản là vì TTCKVN đã qua rất lâu thời kỳ đỉnh cao. Muốn khai thác hiệu quả dòng vốn FPI, cùng với hỗ trợ chính sách từ Chính phủ, tự thân các doanh nghiệp cần làm tốt công tác truyền thông tài chính, đẩy mạnh và phát triển thương hiệu.
Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao sẽ trở thành vấn nạn của năm 2009, kéo theo hiệu ứng xã hội tiêu cực. Ước tính đến hết năm 2008, số người mất việc tại Hoa Kỳ lên tới nửa triệu bao gồm cả nhóm lao động có kỹ năng và trình độ chuyên môn cao trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng và quản trị. Tại các quốc gia đang phát triển, áp lực việc làm tiếp tục gia tăng khi tăng trưởng kinh tế không theo kịp đà phát triển của lực lượng lao động.
Tạo đủ công ăn việc làm cũng là một thách thức của kinh tế Việt Nam trong năm 2009. Khu vực doanh nghiệp, đặc biệt khối tư nhân, còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Thu hẹp qui mô và giãn sản xuất, đồng nghĩ với cắt giảm nhân công hoặc sử dụng không hết thời gian làm việc, là những giải pháp phổ biến tại nhiều đơn vị sản xuất thời gian qua. Ngay trong khu vực vốn tạo nên cơn sốt nhân lực trong năm 2006-2007 là tài chính, ngân hàng, và chứng khoán cũng hình thành xu thế cắt giảm mạnh. Giá cổ phiếu xuống thấp cộng với qui mô giao dịch giảm mạnh đẩy không ít công ty chứng khoán lâm vào cảnh thua lỗ và hoạt động cầm chừng. Đơn cử như Chứng khoán Bảo Việt, công ty thuộc nhóm dẫn đầu của ngành có lịch sử hoạt động gắn bó với TTCKVN từ những ngày đầu tiên, sau 9 tháng đầu năm 2008 đã công bố khoản lỗ trên 300 tỷ đồng. Tại thời điểm công bố, ngày 22/10/2008, VNIndex đang ở mức 374 điểm.
Mặt bằng lãi suất đã được điều chỉnh giảm dần suốt sáu tháng cuối năm 2008 nhưng trên thị trường tín dụng, ngân hàng và doanh nghiệp vẫn chưa tìm được tiếng nói thống nhất. Quá trình tự điều chỉnh sẽ dẫn tới điểm chung. Vấn đề của hệ thống ngân hàng là sàng lọc tốt và lựa chọn các dự án thực sự có chất lượng, chỉ cần được tiếp đủ vốn là sẽ đạt tới qui mô sản xuất kinh doanh hiệu quả. Trong thời gian TTCKVN tăng trưởng đầy hào hứng kể từ giữa 2006 đến hết 2007, nhiều dự án đầu tư mở rộng hoặc phát triển mới đã được triển khai mà không có các đánh giá đầy đủ và cẩn trọng về mức độ khả thi thương mại. Đa phần các ngân hàng hiện này đều có qui trình tín dụng với nhiều thủ tục nhằm đảm bảo mức độ an toàn cao cho các khoản vay. Tuy nhiên, phần cơ bản nhất là đánh giá tín nhiệm để phân cấp tín dụng, làm căn cứ xác định lãi suất và hạn mức cho từng khách hàng hay nhóm khách hàng thì vẫn chưa hoàn chỉnh.
Do suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng, nhu cầu tiêu dùng trong năm 2009 giảm mạnh. WB ước tính mậu dịch thế giới sau khi tăng 6,2% trong năm 2008 sẽ suy giảm 2,1% trong năm tới. Từ đó, có thể nhận định một năm khó khăn cho xuất khẩu Việt Nam đang ở phía trước. Mặc dù giá nhập khẩu cũng có xu thế giảm nhưng muốn đảm bảo nhập siêu ở mức an toàn, cần tiếp tục kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu và cổ vũ thực hành tiết kiệm trong tiêu dùng và đầu tư.

Gợi mở chính sách và vấn đề cần quan tâm


Thực tế ứng phó với một năm khủng hoảng của thế giới và Việt Nam khẳng định vai trò can thiệp và điều tiết kinh tế của các Chính phủ là không thể thiếu. Mặt khác, sức mạnh của thị trường với các lực lượng tài phiệt công nghiệp, tài chính cũng không thể xem nhẹ. Khi giải quyết hậu quả của khủng hoảng, các Chính phủ luôn bị ràng buộc bởi hạn chế ngân sách. Phần cơ bản nhất trong nguồn thu của Chính phủ là thuế. Phần đáp ứng bội chi là các khoản vay nợ (phổ biến là thông qua phát hành trái phiếu) từ thị trường. Khả năng bù đắp, do vậy, phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của hệ thống tài chính tư nhân. Tính thời điểm và liều lượng can thiệp của Nhà nước càng trở nên quan trọng hơn.
Diễn biến của năm 2008 cũng thể hiện rõ ảnh hưởng có tính chất quyết định của van tín dụng tiền tệ thông qua công cụ lãi suất tới trạng thái hoạt động của nền kinh tế, cho dù đó là Hoa Kỳ, châu Âu, hay Việt Nam. Các thông tin điều chỉnh mức lãi suất luôn có tác động tức thì tới thị trường. Chỉ bằng một động tác siết van tín dụng, nền kinh tế có thể chuyển từ trạng thái tăng trưởng và mở rộng đầu tư sang cảnh ngưng trệ và đình đốn.
Tín dụng là đồng xu có hai mặt. Ở mặt tốt, tín dụng là một phần của chu kỳ sản xuất. Việc mở rộng tín dụng sẽ khuyến khích đầu tư và cả chi tiêu của xã hội. Tổng cầu trong nền kinh tế tăng lên. Nền kinh tế có mức tăng trưởng tích cực và đời sống được cải thiện. Ở mặt xấu, nới lỏng tín dụng là khởi nguồn của sự hình thành bong bóng đầu cơ. Chính cựu chủ tịch FED, Alan Greenspan đã thừa nhận, việc duy trì mức lãi suất thấp trong một thời gian dài là sai lầm và hậu quả tàn phá của sóng thần thế kỷ là vượt quá mọi tưởng tượng.
Trong thời kỳ biến động kinh tế, chỉ đạo quyết liệt từ cấp lãnh đạo cao nhất, phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành chức năng và hỗ trợ tích cực của hệ thống truyền thông là những nhân tố then chốt để bình ổn thị trường. Truyền thông tốt phải đảm bảo: (i) thông tin chất lượng; (ii) phương pháp truyền dẫn tốt; (iii) tiếp thu thông tin có định hướng hợp lý của xã hội và thị trường. Muốn vậy, công tác dự báo và nghiên cứu khoa học ứng dụng trong điều hành vĩ mô phải làm tốt. Ngay cả khi dự báo không hoàn toàn chính xác thì các mô hình điều khiển động học vĩ mô tốt cũng định hướng lời giải hiệu quả vào những tình huống biến cố. Xây dựng và phát triển một học thuyết kinh tế của Việt Nam, cho Việt Nam, vì Việt Nam giúp định hướng điều hành rõ nét, và chủ động hơn trong ứng phó trước những vận động bất thường của nền kinh tế thế giới và trong nước./.

TS. Vương Quân Hoàng
Đại học Tổng hợp Brussels
đăng trên Tạp Chí Cộng Sản, Tháng 1 năm 2009

10 kiểu phòng ngủ hiện đại

Không cần đồ đạc đắt tiền hoặc hiện đại, bạn vẫn có thể tạo ra phong cách sang trọng, tươi trẻ cho phòng ngủ của mình chỉ nhờ một vài mẹo pha màu sắc.















Đen trắng chủ đạo. Sự pha trộn khéo léo giữa hai tông màu tương phản tạo ra không gian có độ sâu và gây ấn tượng. Hai chiếc gương lớn viền khung đen làm tăng tính hiện đại của thiết kế.

















Đơn giản từ trần tới sàn nhà. Căn phòng có màu vừa phải cùng chiếc cửa sổ chạy từ trần tới sàn nhà là không gian tuyệt hảo cho những thiết kế hiện đại. Điểm xuyết bằng những chiếc gối có nhiều hoa văn. Bức tường dạng vách phên là một ý tưởng rất hay cho căn phòng kiểu này. Nó có thể dàng được hạ xuống và gấp cất đi bất cứ lúc nào, mà không phá vỡ cấu trúc cứng của tường.


















Sự pha trộn giữa nét hiện đại và truyền thống. Nét truyền thống giấu đi trong những chiếc gối kẻ sọc và hoa văn, trong khi dáng vẻ hiện đại phô ra ở khung cửa.

















Trong căn phòng này, nét hiện đại xuất hiện trên giường. Những chiếc gối quá cỡ tương phản màu sắc là điểm nhấn mạnh trong nét trung tính của phòng. Một tấm ván đầu giường cao với khung to cho phép kê các bức tranh nghệ thuật.













Nét hiện đại không nhất thiết phải quá đậm nét. Hãy chọn đồ đạc có các đường đơn giản và màu trung tính. Những chiếc đèn hai bên đầu giường sẽ tăng thêm vẻ hiện đại.













Sự giản dị, những màu nhạt và các đường thẳng tạo ra nét hiện đại trong căn phòng ngủ lớn này. Hai chiếc ghế ngồi ở cuối phòng bổ sung thêm cá tính và dặm một chút màu.


















Những hình thù có thể đáng sợ, nhưng chúng cũng có thể có hiệu quả để tạo ra không gian mạnh và lôi cuốn.

















Căn phòng này bùng nổ với các gam màu ấm, các bức tranh và hoa văn. Chiếc trường kỷ có màu trung tính ở phía trước cửa sổ cho phép màu sắc tiếp tục trải rộng bên ngoài giường và tường.
















Sự tao nhã ẩn mình. Căn phòng này là điển của hình của thể loại tông trùng tông, chủ yếu với màu nâu, xanh sáng và trắng tinh. Thành đầu giường màu nâu và những chiếc gối trang trí làm bức tường nổi thêm nữa.












Tao nhã và thoải mái. Trong căn phòng có màu nhẹ nhàng này, màu be được bù trừ với gỗ dày và những chiếc gối màu xanh dương sậm.